Route Parameters

Required Parameters
Đôi khi bạn cần control được các thành phần của URI trong route của bạn. Ví dụ bạn có thể cần truy cập dữ liệu user's ID từ URL. Bạn có thể định nghĩa một route với tham số như sau:

Route::get('user/{id}', function ($id) {
    return 'User '.$id;
});

Bạn có thể định nghĩa nhiều tham số trong route:

Route::get('posts/{post}/comments/{comment}', function ($postId, $commentId) {
    //
});

Các tham số route luôn được đặt trong cặp ngoặc {}, và nó chỉ nên chứa các kí tự, không nên chứa kí tự -. Trong trường hợp cần sử dụng kí tự -, sử dụng dấu _ để thay thế. Các tham số này được injected vào trong callbacks/controller theo thứ tự tương ứng.
Optional Parameters
Đôi khi bạn cần tạo một tham số route, nhưng tham số này có thể là tùy chọn (có/không). Bạn có thể thực hiện điều này bằng cách đặt ? sau tên tham số. Để chắc chắn chúng ta truyền cho biến route này một giá trị mặc định:

Route::get('user/{name?}', function ($name = null) {
    return $name;
});

Route::get('user/{name?}', function ($name = 'John') {
    return $name;
});

 

Regular Expression Constraints
Bạn có thể constrain định dạng các tham số route của bạn bằng cách sử dụng phương thức where trong một route instance. Phương thức này có 2 đối số là tên của tham số và biểu thức regular expression ràng buộc tham số này.

Route::get('user/{name}', function ($name) {
    //
})->where('name', '[A-Za-z]+');

Route::get('user/{id}', function ($id) {
    //
})->where('id', '[0-9]+');

Route::get('user/{id}/{name}', function ($id, $name) {
    //
})->where(['id' => '[0-9]+', 'name' => '[a-z]+']);

 

Global Constraints
Nếu bạn muốn tham số route của bạn luôn được constrained bởi biểu thức regular expression, bạn có thể sử dụng pattern method. Bạn nên định nghĩa patterns trong phương thức boot của RouteServiceProvider:

/**
 * Define your route model bindings, pattern filters, etc.
 *
 * @return void
 */
public function boot()
{
    Route::pattern('id', '[0-9]+');

    parent::boot();
}

Khi pattern được định nghĩa, nó sẽ tự động applied vào tất cả các routes sử dụng tham số có cùng tên:

Route::get('user/{id}', function ($id) {
    // Only executed if {id} is numeric...
});

 

Named Routes

Named routes cho phép rút gọn URLs hoặc chuyển hướng tới các route đặc biệt. Bạn cũng cần chỉ ra tên cho một route bằng cách thêm phương thức name khi định nghĩa route.

Route::get('user/profile', function () {
    //
})->name('profile');

Bạn cũng có thể chỉ tên route cho các controller action:

Route::get('user/profile', 'UserController@showProfile')->name('profile');

 

Generating URLs To Named Routes
Nếu bạn muốn đặt tên cho route, bạn có thể sử dụng route's name để thực thi URLs hoặc redirect bằng cách sử dụng hàm route

// Generating URLs...
$url = route('profile');

// Generating Redirects...
return redirect()->route('profile');

Nếu route có chứa tham số, bạn có thể truyền tham số này vào đối số thứ 2 của hàm route. Tham số này sau đó sẽ được tự động truyền vào URL

Route::get('user/{id}/profile', function ($id) {
    //
})->name('profile');

$url = route('profile', ['id' => 1]);

 

Inspecting The Current Route
Nếu bạn muốn kiểm tra xem request hiện tại được route bởi name route nào, bạn có thể sử dụng phương thức named của Route instance. Ví dụ bạn có thể kiểm tra current route name từ một route middleware:

/**
 * Handle an incoming request.
 *
 * @param  \Illuminate\Http\Request  $request
 * @param  \Closure  $next
 * @return mixed
 */
public function handle($request, Closure $next)
{
    if ($request->route()->named('profile')) {
        //
    }

    return $next($request);
}

 

Route Groups

Route groups cho phép bạn chia sẻ route attributes, ví dụ như là middleware hoặc namespaces, thông qua số lượng lớn các route mà không cần định nghĩa các attributes cho từng route. Các attributes được chia sẻ  dưới dạng 1 mảng, là tham số đầu tiên trong phương thức Route::group.
Middleware
Để assign middleware cho tất cả các route trong một group, bạn có thể sử dụng phương thức middleware trước khi định nghĩa một group. Middleware thực thi lần lượt trong mảng được sắp xếp:

Route::middleware(['first', 'second'])->group(function () {
    Route::get('/', function () {
        // Uses first & second Middleware
    });

    Route::get('user/profile', function () {
        // Uses first & second Middleware
    });
});

 

Namespaces
Một trường hợp khác của route groups là nó được truyền giống như PHP namespace tới một nhóm các controllers bằng cách sử dụng phương thức namespace:

Route::namespace('Admin')->group(function () {
    // Controllers Within The "App\Http\Controllers\Admin" Namespace
});

Nhớ rằng, mặc định, RouteServiceProvider sẽ lấy các file route trong namespace group, cho phép bạn đăng ký các controller route mà không cần chỉ ra đầy đủ tiền tố namespace App\Http\Controllers. Vì vậy, bạn chỉ cần chỉ ra phần của namespace đằng sau App\Http\Controllers
Route Prefixes
Phương thức prefix được sử dụng để tặt tiền tố cho tất cả các route trong group. Ví dụ bạn muốn đặt prefix cho tất cả các URIs trong group admin:

Route::prefix('admin')->group(function () {
    Route::get('users', function () {
        // Matches The "/admin/users" URL
    });
});

 

Route Name Prefixes
Phương thức name được sử dụng để đặt prefix cho các route trong group. Ví dụ, bạn muốn đặt tất cả prefix của group route là admin. Một chuỗi được đặt cho route name, chúng ta cũng sẽ cung cấp một ký tự . cùng với prefix:

Route::name('admin.')->group(function () {
    Route::get('users', function () {
        // Route assigned name "admin.users"...
    })->name('users');
});

 

Route Model Binding

Khi truyền một model ID tới một route hoặc một controller action, bạn thường sẽ query để lấy về model tương ứng với ID. Laravel route model binding cung cấp một cách tiện lợi để tự động inject một thực thể model trực tiếp tới các route của bạn.
Ví dụ, thay vì truyền một user's ID, bạn có thể inject một thực thể User model.
Implicit Binding

Laravel tự động resolves Eloquent models được defined trong các route hoặc các controller action có tên match với một route segment name. Ví dụ:

Route::get('api/users/{user}', function (App\User $user) {
    return $user->email;
});

Từ lúc biến $user được gợi ý như là model Eloquent trong App\User và tên biến (user) match với URI segment, Laravel sẽ tự động inject thực thể model có ID matching với giá trị từ request URI. Nếu một thực thể model matching không được tìm thấy trong database, một HTTP response 404 sẽ được trả về.
Customizing The Key Name
Nếu bạn muốn binding model tới một trường khác trong database khi lấy data từ lớp model, bạn có thể override lại phương thức getRouteKeyName trong Eloquent model:

/**
 * Get the route key for the model.
 *
 * @return string
 */
public function getRouteKeyName()
{
    return 'slug';
}

 

Explicit Binding
Để đăng ký một binding tường minh, sử dụng phương thức model của router để chỉ ra lớp làm tham số. Bạn có thể định nghĩa model binding tường minh của bạn trong phương thức boot của lớp RouteServiceProvider:

public function boot()
{
    parent::boot();

    Route::model('user', App\User::class);
}

Tiếp theo định nghĩa một route chứa tham số {user}:

Route::get('profile/{user}', function (App\User $user) {
    //
});

Từ bây giờ chúng ta có thể bound tất cả tham số {user} vào model App\User, một thực thể User sẽ được injected vào route. Ví dụ, một request tới profile/1 sẽ inject thực thể User từ database có ID là 1.

Nếu không có model nào được tìm thấy trong database, 404 HTTP response sẽ được trả về.

Rate Limiting

Laravel có một middleware để giới hạn truy cập tới các route trong ứng dụng của bạn. Để bắt đầu, sử dụng throttle middleware để điều khiển một route hoặc một nhóm các route. Tthrottle middleware chấp nhận 2 tham số, maximum number của các request được thực thi trong một phút. Ví dụ, Chỉ ra việc authenticated user có thể được truy cập 60 lần/phút

Route::middleware('auth:api', 'throttle:60,1')->group(function () {
    Route::get('/user', function () {
        //
    });
});

 

Dynamic Rate Limiting
Bạn cũng có thể chỉ ra số request lớn nhất động, dựa trên một thuộc tính của authenticated User model. Ví dụ, nếu User model của bạn chứa một biến rate_limit, bạn có thể truyền tên của thuộc tính này tới throttle middleware, vì thế nó được sử dụng để tính toán số request tối đa:

Route::middleware('auth:api', 'throttle:rate_limit,1')->group(function () {
    Route::get('/user', function () {
        //
    });
});

 

Form Method Spoofing

HTML forms không hỗ trợ các action PUT, PATCH, DELETE. Vì thế, khi defining các route PUT, PATCH hoặc DELETE được gọi từ HTML form, bạn sẽ cần thêm một hidden _method field cho form của mình. Giá trị này sẽ được sử dụng trong giao thức HTTP request:

<form action="/foo/bar" method="POST">
    <input type="hidden" name="_method" value="PUT">
    <input type="hidden" name="_token" value="{{ csrf_token() }}">
</form>

Bạn cũng có thể sử dụng method @Blade để tạo _method input:

<form action="/foo/bar" method="POST">
    @method('PUT')
    @csrf
</form>

 

Accessing The Current Route

Bạn có thể sử dụng phương thức current, currentRouteNamecurrentRouteAction của route facade để truy cập thông tin về route đang được handling trong request:

$route = Route::current();

$name = Route::currentRouteName();

$action = Route::currentRouteAction();

Tham khảo thêm thông tin về Route FacadeRoute Instance

Thông qua bài viết này mình sẽ hướng dẫn các bạn làm quen và hiểu thêm về công nghệ Blockchain.

Mục đích

– Tạo hệ thống Blockchain đơn giản nhất.
– Tạo hệ thống mining (poor of work) đơn giản.
– Khám phá thêm về Blockchain.

Kiến thức cần chuẩn bị: OOP, biết 1 ngôn ngữ hướng đội tượng.
Ok giờ xắn tay vào việc nào

Making the Blockchain.

Một blockchain là danh sách, chuỗi các khối (A blockchain is just a chain/list of blocks). Mỗi block trong blockchain sẽ chứa chữ ký số của nó, chữ ký số của khối trước nó và dữ liệu của khối (dữ liệu giao dịch là một ví dụ).

 

Hash = Digital Signature.

Mỗi khối không chỉ chứa mã hash của khối trước nó mà nó còn chứa mã hash của chính nó, được tính toán dựa trên mã hash của khối trước nó. Nếu dữ liệu khối trước đó bị thay đổi (khối A), việc này dẫn tới thay đổi mã hash của khối A, do mã hash được tính toán dựa trên data này. Việc này dẫn tới sự thay đổi mã hash của tất cả các khối trong chuỗi. Việc tính toán và so sánh giúp chúng ta phát hiện ra bất kì sự thay đổi nào trong blockchain.

Điều này có nghĩa là gì? – Nghĩa là khi thay đổi dữ liệu của 1 block thì sẽ dẫn tới thay đổi dữ liệu của rất rất nhiều block, và dãn tới thay đổi chain (break the chain).

Giờ chúng ta sẽ thừ bắt đầu xây dựng một hệ thống Blockchain đơn giản.

Tạo project đặt tên là NoobChain

Thêm class Block để xây dựng blockchain

class Block
{
        public String hash;
        public String previousHash;
        private String data; // Trong ví dụ này chúng ta chỉ lưu data là một thông báo.
        private long timeStamp;
        

        //Block Constructor.
        public Block(String data, String previousHash)
        {
            this.data = data;
            this.previousHash = previousHash;
            this.timeStamp = DatetimeHandle.GetTime();            
        }     

}

Như bạn thấy Block cơ bản của chúng ta chứa một chuỗi hash sẽ dùng để lưu chữ kí số. Một biến previousHash để lưu hash của khối trước nó, và dữ liệu của khối.

Bước tiếp theo chúng ta sẽ tiến hành tạo chữ ký số.
Tạo lớp HashSha256, áp dụng thuật toán sha256 để sinh chuỗi, với nội dung như sau:

class HashSha256
{
  public override string Hash(string strInput)
  {
    try
    {
      var crypt = new System.Security.Cryptography.SHA256Managed();
      var hash = new System.Text.StringBuilder();
      byte[] crypto = crypt.ComputeHash(Encoding.UTF8.GetBytes(strInput));
      foreach (byte theByte in crypto)
      {
        hash.Append(theByte.ToString("x2"));
      }
      return hash.ToString();
    }
    catch (Exception e)
    {
      throw e;
    }    
  }
}

Sau đó quay trờ lại lớp Block thêm và hàm tính mã hash

public String CalculateHash()
{
  HashSha256 sha256 = new HashSha256();
  String calculatedhash = sha256.Hash(
      previousHash +
      timeStamp.ToString()
      data);
  return calculatedhash;
}

 

.. và thêm hàm này vào contructor của lớp Block

public Block(String data, String previousHash)
{
  this.data = data;
  this.previousHash = previousHash;
  this.timeStamp = DatetimeHandle.GetTime();
  this.hash = CalculateHash(); // thêm hàm này vào cuối để chắc chắn các dữ liệu khác được init trước khi gọi hàm
}

Ok, giờ chúng ta thử kiểm tra lại công việc vừa làm xem…
Trong hàm Main của class program.cs chúng ta sẽ viết đoạn code để hiển thị chuỗi hash

Khối đầu tiên được gọi là genesis block, và vì nó không có khối phía trước nên ta sẽ gán previousHash của nó bằng 0

class Program
{       
  static void Main(string[] args)
  {
    Block genesisBlock = new Block("Hi im the first block", "0");
    Console.WriteLine("Hash for block 1 : " + genesisBlock.hash);

    Block secondBlock = new Block("Yo im the second block", genesisBlock.hash);
    Console.WriteLine("Hash for block 2 : " + secondBlock.hash);

    Block thirdBlock = new Block("Hey im the third block", secondBlock.hash);
    Console.WriteLine("Hash for block 3 : " + thirdBlock.hash);          

    Console.ReadLine();
  }
}

Output của chúng ta sẽ là 3 mã hash


Mỗi block giờ sẽ chứa chữ kí số được xây dựng trên thông tin của nó và chữ ký số của khối phía trước.
Để giống với khái niệm blockchain hơn, ta sẽ lưu trữ các block này trong List
Chỉnh sửa file program.cs như sau:

class Program
{
  public static List<Block> blockchain = new List<Block>();

  static void Main(string[] args)
  {
    blockchain.add(new Block("Hi im the first block", "0"));		
    blockchain.add(new Block("Yo im the second block",blockchain.ElementAt(blockchain.size()-1).hash)); 
    blockchain.add(new Block("Hey im the third block",blockchain.ElementAt(blockchain.size()-1).hash));

    string printBlockChain = new System.Web.Script.Serialization.JavaScriptSerializer().Serialize(blockchain);
    Console.WriteLine(printBlockChain);

    Console.ReadLine();
  }
}

Để sử dụng được JavaScriptSerializer thì các bạn làm như sau

Right click References and do Add Reference, then from Assemblies->Framework select System.Web.Extensions

Chạy lại ứng dụng và xem kết quả thử nhé mọi người 🙂

 

Kiểm tra tính toàn vẹn của blockchain.

Chúng ta sẽ viết phương thức IsChainValid() kiểu boolean trong file program.cs. Phương thức nãy sẽ loop qua tất cả các block trong chain và so sánh các chuỗi hash. Phương thức này sẽ cần kiểm tra biến hash so sánh nó với chuỗi hash được tính toán, và chỗi hash ở khối trước so sánh với biến previousHash. Uhm, nghe có vẻ phức tạp, thử nhìn code xem có dễ hiểu hơn không nào.

public static Boolean IsChainValid()
{
  Block currentBlock;
  Block previousBlock;

  //loop through blockchain to check hashes:
  for (int i = 1; i < blockchain.Count; i++)
  {
    currentBlock = blockchain.ElementAt(i);
    previousBlock = blockchain.ElementAt(i - 1);

    //compare registered hash and calculated hash:
    if (!currentBlock.hash.Equals(currentBlock.CalculateHash()))
    {
      Console.WriteLine("Current Hashes not equal");
      return false;
    }

    //compare previous hash and registered previous hash
    if (!previousBlock.hash.Equals(currentBlock.previousHash))
    {
      Console.WriteLine("Previous Hashes not equal");
      return false;
    }
  }
  return true;
}

Bất kì một thay đổi nào với mỗi block phương thức này sẽ trả về false.

Trên mạng lưới bitcoin, các nodes chia sẻ các blockchain và chuỗi hợp lệ dài nhất sẽ được châp nhận bởi hệ thống. Vậy nếu một hacker giả mạo một khối và tạo nên chuỗi blockchain mới cho mạng thì sao. Điều này là bất khả thi, vì sao? Giả sử hacker có thể xâm nhập và thay đổi một khối dữ liệu, điều này dẫn tới các dữ liệu tiếp theo của khối này cũng bị thay đổi. Vì vậy cần rất nhiều thời gian và sức mạnh tính toán để hacker có thể vượt hơn được so với sức mạnh tính toán của các thành viên còn lại trong hệ thống khi kết hợp.

Đào tiền ảo, cày sâu hay lướt sóng?

Lets start mining blocks!!!

Chúng ta sẽ yêu cầu minner tiến hành đào-coin bằng cách bắt họ phải thử các biến khác nhau trong block cho đến khi chuỗi hash bắt đầu với giá trị 0. Tại sao lại là 0?. Bạn có thể quy ước là bất cứ giá trị gì, tùy thuộc vào genesis hash của bạn. Trong trường hợp này chúng ta chọn 0.

Tiếp theo chúng ta thêm biến nonce trong hàm CalculateHash(), và thêm hàm MineBlock() như sau:

class Block
{
  public String hash;
  public String previousHash;
  private String data; //our data will be a simple message.
  private long timeStamp; //as number of milliseconds since 1/1/1970.
  private int nonce = 0;

  //Block Constructor.
  public Block(String data, String previousHash)
  {
    this.data = data;
    this.previousHash = previousHash;
    this.timeStamp = DatetimeHandle.GetTime();
    this.hash = CalculateHash();
  }

  public String CalculateHash()
  {
    HashSha256 sha256 = new HashSha256();
    String calculatedhash = sha256.Hash(
        previousHash +
        timeStamp.ToString() +
        nonce.ToString() + 
        data);
    return calculatedhash;
  }

  public void MineBlock(int difficulty)
  {
    var str = new String(new char[difficulty]);
    String target = new String(new char[difficulty]).Replace('\0', '0'); //Create a string with difficulty * "0" 
    while (!hash.Substring(0, difficulty).Equals(target))
    {
      nonce++;
      hash = CalculateHash();
    }
    Console.WriteLine("Block Mined!!! : " + hash);
  }
}

Phương thức MineBlock() truyền vào tham số difficulty kiểu int để quy định độ khó của thuật toán. Các bạn có thể thay đổi tham số này để kiểm tra tốc độ đào-coin khi chạy chương trình. Ở ví dụ này mình khuyến khích các bạn đặt ở mức 4-6 cho việc testing. Ex, Hiện tại độ khó của Litecoin là khoảng 442,592, khá kinh khủng.

Chúng ta thêm biến difficulty vào lớp program.cs:

public static int difficulty = 5;

Tiếp đó chúng ta cập nhật lớp program.cs, gọi hàm MineBlock() cho mỗi block mới. Phương thức IsChainValid() cũng được gọi sau khi đào được coin :D.

class Program
{
  public static List<Block> blockchain = new List<Block>();
  public static int difficulty = 5;

  static void Main(string[] args)
  {
    blockchain.Add(new Block("Hi im the first block", "0"));
    Console.WriteLine("Trying to Mine block 1... ");
    blockchain.ElementAt(0).MineBlock(difficulty);

    blockchain.Add(new Block("Yo im the second block", blockchain.ElementAt(blockchain.Count - 1).hash));
    Console.WriteLine("Trying to Mine block 2... ");
    blockchain.ElementAt(blockchain.Count - 1).MineBlock(difficulty);

    blockchain.Add(new Block("Hey im the third block", blockchain.ElementAt(blockchain.Count - 1).hash));
    Console.WriteLine("Trying to Mine block 3... ");
    blockchain.ElementAt(blockchain.Count - 1).MineBlock(difficulty);

    Console.WriteLine("\nBlockchain is Valid: " + IsChainValid());
    string printBlockChain = new System.Web.Script.Serialization.JavaScriptSerializer().Serialize(blockchain);
    Console.WriteLine(printBlockChain);

    Console.ReadLine();
  }

  public static Boolean IsChainValid()
  {
    Block currentBlock;
    Block previousBlock;

    //loop through blockchain to check hashes:
    for (int i = 1; i < blockchain.Count; i++)
    {
      currentBlock = blockchain.ElementAt(i);
      previousBlock = blockchain.ElementAt(i - 1);

      //compare registered hash and calculated hash:
      if (!currentBlock.hash.Equals(currentBlock.CalculateHash()))
      {
        Console.WriteLine("Current Hashes not equal");
        return false;
      }

      //compare previous hash and registered previous hash
      if (!previousBlock.hash.Equals(currentBlock.previousHash))
      {
        Console.WriteLine("Previous Hashes not equal");
        return false;
      }
    }
    return true;
  }
}

Chạy thử và xem kết quả nhé

Ối zồi ôi tôi đào được coin rồi này 😀

Kết

Một blockchain giả mạo sẽ không thể bắt kịp chuỗi dài hơn và hợp lệ trừ khi chúng có tốc độ tính toán lớn hơn tất cả các nút khác trong mạng của bạn kết hợp. Một máy tính lượng tử trong tương lai hay gì đó (người ngoài hành tinh?)

Demo

https://github.com/kumochan/Blockchain-Sample-01

Basic Routing

Các routes cơ bản của Laravel chấp nhận một URI và một Closure, nó cung cấp một phương thức rất đơn giản và dễ hiểu để định nghĩa routes như sau:

Route::get('foo', function () {
  return 'Hello World';
});

 
The Default Route Files
Tất cả các routes của Laravel được định nghĩa trong file route được đặt trong thư mục routes. Những files này được tự động load bởi framework. routes/web.php định nghĩa các routes cho ứng dụng web của bạn. Các routes này được gán cho nhóm web middleware, nhóm này sẽ cung cấp các tính năng như sesion stateCSRF protection. Các routes trong file routes/api.phpstateless - không có trạng thái và được gán cho nhóm api middleware

Hầu hết các ứng dụng, bạn sẽ bắt đầu bằng việc định nghĩa routes trong file routes/web.php. Routes được định nghĩa trong file routes/web.php có thể được truy cập bằng URL trên trình duyệt. Ví dụ, bạn có thể truy cập route tới http://your-app.test/user trên trình duyệt như sau:

Route::get('/user', 'UserController@index');

Routes được định nghĩa trong file routes/api.php được lồng trong một route group bởi RouteServiceProvider. Trong group này, /api URI prefix tự động được thêm vào, vì thế bạn không cần thêm nó một các thủ công cho mỗi route trong file. Bạn có thể chỉnh sửa prefix và các tùy chỉnh của route group bằng cách chỉnh sửa lớp RouteServiceProvider.
 
Available Router Methods
Router cho phép bạn đăng ký các routes trả về từ bất kì giao thức HTTP nào:

Route::get($uri, $callback);
Route::post($uri, $callback);
Route::put($uri, $callback);
Route::patch($uri, $callback);
Route::delete($uri, $callback);
Route::options($uri, $callback);

Đôi khi bạn cần đăng ký một route chấp nhận nhiều giao thức HTTP. Trường hợp này bạn có thể sử dụng phương thức match. Hoặc bạn thậm chí có thể đăng ký một route cho phép nhận response từ tất cả các giao thức HTTP bằng cách sử dụng phương thức any:

Route::match(['get', 'post'], '/', function () {
    //
});

Route::any('foo', function () {
    //
});

 
CSRF Protection
Bất kì giao thức POST, PUT, DELETE nào được gửi qua web route sẽ phải kèm theo một csrf token. Nếu không request này sẽ bị từ chối.

<form method="POST" action="/profile">
    @csrf
    ...
</form>

Redirect Routes
Nếu bạn muốn chuyển hướng tới một URI khác, bạn có thể sử dụng Route::redirect. Sử dụng phương thức này bạn không cần phải định nghĩa một route đầy đủ hoặc một controller để thực thi redirect đơn giản:

Route::redirect('/here', '/there', 301);

 
View Routes
Nếu route của bạn chỉ trả về một view, bạn có thể sử dụng phương thức Route::view. Tương tự như phương thức redirect, phương thức này trả về một view mà bạn không cần phải định nghĩa một route ddầy đủ hoặc một controller. Tham số đầu tiên của phương thức này là một URI, tham số thứ 2 là tên view. Ngoài ra bạn có thể truyền một mảng dữ liệu để hiển thị trên view:

Route::view('/welcome', 'welcome');

Route::view('/welcome', 'welcome', ['name' => 'Taylor']);

 
Phần 2

Introduction

Khi bạn sử dụng tools trong “thế giới thực”, bạn sẽ cảm thấy tự tin hơn nếu bạn hiểu cách mà tool đó hoạt động. Trong các ứng dụng phần mềm cũng vậy, khi bạn hiểu về chắc chức năng phần mềm của mình, bạn sẽ cảm thấy thoải mái và tự tin khi sử dụng chúng.

Mục tiêu của tài liệu này là giúp bạn có được kiến thức (high-level) tổng quan tốt về cách mà Laravel framework làm việc. Bằng cách tìm hiểu tổng quan về framework, mọi thứ có vẻ sẽ bớt “ảo diệu” hơn và bạn sẽ trở nên tự tin khi xây dựng ứng dụng của mình. Nếu bạn không hiểu tất cả các điểu khoản ngay lập tức, đừng vội đầu hàng (don’t lose heart!). Hãy thử tìm hiểu từng khái niêm cơ bản trước và xem cách chúng hoạt động, và kiến thức của bạn sẽ tăng dần lên khi bạn khám phá các phần khác của tài liệu.

Lifecycle Overview

First Things
Bắt đầu của tất cả các requests tới ứng dụng Laravel là file public/index.php, tất cả các requests được điều hướng tới file này bằng cấu hình web server (Apache / Nginx). File index.php không chứa quá nhiều code. Thay vào đó nó là điểm bắt đầu để tải các phần của framework.

File index.php tải the Composer generated autoloader definition, và sau đó trả về một instance của ứng dụng Laravel từ đoạn mã trong bootstrap/app.php. Action đầu tiên tạo bởi Laravel là tạo ra một instance của ứng dụng / service container.

HTTP / Console Kernels
Tiếp theo, request sẽ được gửi tới HTTP kernel hoặc Console kernel, tùy thuộc vào loại request mà ứng dụng nhận được. 2 kernel này là trung tâm mà tất cả các request sẽ flow theo. Bây giờ, chúng ta sẽ tập trung vào HTTP kernel, được đặt trong app/Http/Kernel.

HTTP kernel kế thừa từ lớp Illuminate\Foundation\Http\Kernel, lớp này định nghĩa mảng bootstrappers sẽ chạy trước khi request được thực thi. Mảng bootstrappers này sẽ quản lý cấu hình lỗi, cấu hình logging, nhận diện môi trường của ứng dụng và thực thi các nhiệm vụ cần thiết phải hoàn thành trước khi request thực sự được thực thi.

HTTP kernel cũng định nghĩa một danh sách HTTP middleware mà tất cả các request sẽ phải chạy qua trước khi được quản lý bởi ứng dụng. Middleware này quản lý việc đọc và ghi HTTP session, xác định xem ứng dụng đang ở trạng thái bảo trì, xác thực CSRF token và rất nhiều tính năng khác.

Việc điều khiển của HTTP kernel rất đơn giản: nhận một Request và trả về một Response. Bạn có thể hiểu Kernel giống như một hộp đen lớn sẽ đại diện cho toàn bộ ứng dụng của bạn, nhận các HTTP Request và trả về các HTTP Response.

Service Providers

Một trong những actions quan trọng nhất của Kernel bootstrapping là loading service providers cho ứng dụng của bạn. Tất cả service providers cho ứng dụng được cấu hình trong file config/app.php. Đầu tiên, phương thức register sẽ được gọi trong tất cả các providers, sau đó, tất cả các providers sẽ được đăng ký (registered), lúc này phương thức boot sẽ được gọi.

Service providers sẽ chịu trách nhiệm khởi động tất cả các components khác nhau của framework, ví dụ như là database, queue, validation và routing. Kể từ khi chúng thực hiện khởi động và cấu hình tất cả tính năng được cung cấp bởi framework, service providers là phần quan trọng nhất của tiến trình thực thi Laravel.

Dispatch Request

Khi ứng dụng được khởi động và tất cả các service providers được đăng ký (registered), Request sẽ được chuyển đến bộ định tuyến (router) để gửi đi. Router sẽ gửi request tới một route hoặc một controller, cũng giống như chạy bất kì route đặc biệt nào trong middleware.

Focus On Service Providers

Service providers thật sự rất quan trọng trong việc khởi chạy ứng dụng Laravel. Khi một instance của ứng dụng được tạo, service providers sẽ được registered, và request sẽ được đưa đến (handed) ứng dụng bootstrapped. Nó thực sự rất đơn giản!

Nắm vững về cách một ứng dụng Laravel được xây dựng và khởi chạy thông qua service providers là rất quan trọng. Service providers mặc định trong ứng dụng của bạn được lưu trữ ở thư mục app/Providers

Mặc định, AppServiceProvider là rỗng. Provider này là nơi tốt nhất để thêm các đoạn mã khởi chạy cho ứng dụng của bạn và service container bindings. Tuy nhiên, với các ứng dụng lớn, bạn có thể tạo một vài service providers cho các mục đích khởi chạy khác nhau.

Tóm tắt

1. Tất cả các request gọi tới ứng dụng laravel đều chạy qua file public/index.php. File này load các phần của framework và tạo một instance của ứng dụng laravel.

2. Request sẽ chạy qua HTTP kernel hoặc Console kernel, HTTP kernel định nghĩa mảng BootstrapperHTTP middleware quản lý các cấu hình trước khi request được xử lý bởi ứng dụng.

3. Service providers sẽ chịu trách nhiệm khởi động tất cả các components khác nhau của framework.

4. Khi service providers được registered, request sẽ được gửi tới các route.

Lang thang trên mạng tình cờ vớ được bí kíp. Đôi khi trong các dự án các bạn cần tạo đối tượng với dữ liệu từ chuỗi string dạng JSON.

Đơn giản rồi, với 3 bước nho nhỏ sau công việc của các bạn sẽ đỡ hơn rất nhiều:

  1. Vào link http://json2csharp.com/ (lạy giời nó đừng chết sau n times mình dùng)
  2. Paste chuỗi JSON vào (hoặc bạn có thể paste thẳng URL của API vào)
  3. Click Generate và xem kết quả.

Các bạn có thể thử với link này nhé: http://samples.openweathermap.org/data/2.5/weather?q=London,uk&appid=b6907d289e10d714a6e88b30761fae22

Awesome!!! Tưởng không phê mà phê không tưởng.

Ra luôn Class

Good luck and happy coding.